Có bốn cách tính lương giáo viên trung tâm hay gặp: trả theo giờ dạy, trả theo buổi, lương cứng cộng giờ dạy, và trả theo doanh thu hoặc sĩ số lớp. Phần lớn trung tâm nhỏ và vừa chọn tính lương theo giờ dạy cho giáo viên part-time và lương cứng cộng giờ cho giáo viên full-time, rồi thêm thưởng theo chất lượng. Cách nào cũng chạy được, miễn là đơn giá được tính ngược từ học phí và mọi giờ dạy đều có chấm công.
Bài này đi qua từng cách, kèm công thức, ví dụ bằng số, các khoản cộng trừ, bảng lương mẫu một tháng và quy chế lương nên viết ra. Mỗi phần có đường dẫn sang bài chi tiết hơn trong cùng chủ đề lương và chấm công.
So sánh nhanh 4 cách trả lương giáo viên
| Cách trả | Công thức | Hợp với | Rủi ro chính |
|---|---|---|---|
| Theo giờ dạy | Số giờ dạy hợp lệ x đơn giá giờ | Giáo viên part-time, nhiều lớp khác độ dài | Phải chấm công chính xác từng buổi |
| Theo buổi | Số buổi x đơn giá buổi | Lớp có độ dài cố định (90 hoặc 120 phút) | Buổi dài ngắn khác nhau dễ thành bất công |
| Lương cứng + giờ dạy | Lương cứng + (giờ vượt định mức x đơn giá) | Giáo viên full-time, có việc ngoài giờ đứng lớp | Định mức đặt sai thì trả tiền cho giờ không dạy |
| Theo doanh thu hoặc sĩ số | % học phí lớp, hoặc đơn giá theo số học viên | Lớp 1 kèm 1, lớp nhóm nhỏ, giáo viên tự mang học viên | Lớp vắng thì thu nhập giáo viên rơi mạnh |
Nhiều trung tâm ghép hai cách: lương theo giờ làm nền, cộng thưởng theo sĩ số hoặc tái đăng ký.
Cách 1: tính lương theo giờ dạy
Tính lương giáo viên theo giờ là cách minh bạch nhất. Giáo viên biết mình dạy bao nhiêu giờ thì nhận bấy nhiêu, trung tâm biết chi phí giáo viên cho từng lớp.
Công thức: Lương giờ dạy = Tổng giờ dạy hợp lệ trong tháng x Đơn giá một giờ.
Ba điểm phải thống nhất trước khi áp dụng:
- Giờ dạy hợp lệ là gì. Giờ của buổi đã diễn ra, giáo viên có mặt đúng giờ (có chấm công), không phải giờ trên thời khóa biểu. Buổi bị hủy không tính, buổi học bù tính cho người dạy bù.
- Làm tròn thế nào. Lớp 90 phút là 1,5 giờ, không làm tròn lên 2 giờ. Ghi rõ đơn vị (giờ 60 phút, không phải tiết 45 phút) để tránh tranh cãi.
- Đơn giá phân theo gì. Một đơn giá chung cho mọi lớp thì dễ tính nhưng thiếu công bằng. Phần dưới có cách phân.
Đơn giá lương theo giờ dạy nên phân theo gì
Đơn giá nên phản ánh độ khó của lớp và giá trị lớp mang lại cho trung tâm. Các tiêu chí thường dùng:
- Cấp độ lớp: lớp luyện thi (IELTS 6.5+, luyện thi vào 10) cao hơn lớp nền tảng.
- Đối tượng: lớp mầm non và tiểu học cần nhiều công quản lớp hơn lớp người lớn.
- Kinh nghiệm và chứng chỉ: ví dụ 3 bậc: mới (dưới 1 năm), chính thức, giáo viên chính phụ trách chương trình.
- Vai trò: giáo viên chính, trợ giảng, giáo viên dạy thay.
Giữ số bậc ít: ba bậc kinh nghiệm cộng hai mức lớp là đủ cho trung tâm dưới 30 giáo viên.
Tính đơn giá ngược từ học phí
Đừng chọn đơn giá theo "mặt bằng thị trường" rồi mới xem có lãi không. Hãy tính ngược từ học phí.
Ví dụ: một khóa tiếng Anh thiếu nhi 48 giờ, học phí 4.800.000đ, tức 100.000đ mỗi giờ cho mỗi học viên. Lớp dự kiến 10 học viên, vậy mỗi giờ lớp mang về 1.000.000đ. Nếu trung tâm đặt trần chi phí giáo viên là 30-35% doanh thu lớp, đơn giá giáo viên chính nằm trong khoảng 300.000-350.000đ một giờ.
Bây giờ thử lớp chỉ có 6 học viên: mỗi giờ lớp mang về 600.000đ. Đơn giá 300.000đ lúc này chiếm 50% doanh thu lớp, còn lại không đủ trả mặt bằng, giáo vụ và quảng cáo. Con số này cho bạn hai quyết định: sĩ số tối thiểu để mở lớp là bao nhiêu, và có cần đơn giá thấp hơn cho lớp nhỏ hay không.
Tỷ lệ 30-35% chỉ là ví dụ. Mỗi trung tâm tự đặt trần dựa trên chi phí mặt bằng và quảng cáo của mình. Muốn biết lớp bao nhiêu học viên thì bắt đầu có lãi, xem bài tính điểm hòa vốn cho trung tâm.
Cách 2: trả lương theo buổi dạy
Trả theo buổi thực chất là trả theo giờ với đơn vị là buổi. Nó dễ hiểu với giáo viên ("mỗi buổi 300.000đ") và dễ đếm khi mọi lớp cùng độ dài.
Vấn đề xuất hiện khi trung tâm có lớp 90 phút và lớp 120 phút. Nếu trả cùng giá một buổi, giáo viên lớp 120 phút thiệt 25%. Cách sửa: đặt giá buổi theo độ dài (90 phút 300.000đ, 120 phút 400.000đ), tức là quay về đơn giá giờ 200.000đ.
Khi đổi giáo viên giữa chừng, cách tính buổi dạy thay và học bù được giải thích ở bài tính công khi giáo viên dạy thay và học bù.
Cách 3: lương cứng cộng giờ dạy cho giáo viên full-time
Giáo viên full-time thường làm nhiều việc ngoài đứng lớp: soạn giáo trình, chấm bài thi đầu vào, trực tư vấn, họp phụ huynh. Trả thuần theo giờ dạy thì những việc này không được trả, và giáo viên sẽ né.
Công thức: Lương = Lương cứng + Phụ cấp + (Giờ dạy vượt định mức x Đơn giá) + Thưởng - Khấu trừ.
Ví dụ: lương cứng 8.000.000đ đã bao gồm định mức 40 giờ đứng lớp và 20 giờ trực mỗi tháng. Giờ dạy vượt định mức trả 180.000đ một giờ. Tháng này giáo viên dạy 52 giờ: lương = 8.000.000 + 12 x 180.000 = 10.160.000đ, chưa tính phụ cấp và thưởng.
Hai sai lầm hay gặp:
- Định mức quá thấp. Giáo viên dạy 25 giờ vẫn nhận đủ lương cứng, trung tâm trả cho giờ ngồi chờ lớp.
- Không tách giờ trực khỏi giờ dạy. Giờ trực lễ tân, giờ trực tư vấn nên có đơn giá riêng thấp hơn giờ dạy, ghi riêng trên bảng công.
Các khoản phụ cấp nên có (đi lại, điện thoại, phụ trách chương trình) và mức hợp lý được bàn ở bài phụ cấp cho giáo viên trung tâm.
Cách 4: lương theo doanh thu hoặc theo sĩ số lớp
Trả theo doanh thu nghĩa là giáo viên nhận một tỷ lệ học phí của lớp mình dạy, ví dụ 30%. Trả theo sĩ số là đơn giá thay đổi theo số học viên có mặt hoặc đang học.
Ví dụ một lớp toán tư duy 12 học viên, học phí 1.500.000đ mỗi tháng, giáo viên dạy 24 giờ trong tháng:
| Sĩ số | Doanh thu lớp/tháng | Giáo viên nhận 30% | Quy ra mỗi giờ |
|---|---|---|---|
| 12 học viên | 18.000.000đ | 5.400.000đ | 225.000đ |
| 9 học viên | 13.500.000đ | 4.050.000đ | 168.750đ |
| 6 học viên | 9.000.000đ | 2.700.000đ | 112.500đ |
Ưu điểm: giáo viên có lý do để giữ học viên và quan tâm tái đăng ký. Nhược điểm: người nhận lớp mới mở (sĩ số thấp) chịu thiệt, thu nhập dao động khiến người giỏi dễ rời đi, và phải thống nhất tính trên học phí niêm yết hay học phí thực thu.
Cách ghép an toàn hơn: sàn theo giờ cộng thưởng sĩ số. Ví dụ đơn giá nền 180.000đ một giờ, lớp giữ được từ 10 học viên trở lên đến cuối khóa thì cộng 500.000đ, tỷ lệ tái đăng ký trên 60% thì cộng thêm 1.000.000đ. Ưu và nhược của cách trả theo sĩ số được phân tích kỹ ở bài trả lương giáo viên theo sĩ số lớp, còn cách gắn thưởng với chất lượng có ở bài cơ chế thưởng giáo viên theo chất lượng và tái đăng ký.
Các khoản cộng và trừ trong bảng lương giáo viên
Một bảng lương giáo viên trung tâm thường có các cột sau. Viết rõ khoản nào có, khoản nào không, ngay trong hợp đồng hoặc quy chế.
| Khoản | Cộng hay trừ | Cách tính gợi ý |
|---|---|---|
| Lương cứng | Cộng | Theo hợp đồng, chỉ với full-time |
| Phụ cấp | Cộng | Khoản cố định mỗi tháng |
| Giờ dạy | Cộng | Giờ hợp lệ x đơn giá dạy |
| Giờ trợ giảng | Cộng | Giờ hợp lệ x đơn giá trợ giảng |
| Giờ trực, ca làm | Cộng | Giờ ca x đơn giá ca |
| Nghỉ phép có lương | Cộng | Số giờ phép đã duyệt x đơn giá ca |
| Thưởng | Cộng | Theo quy chế: sĩ số, tái đăng ký, kết quả thi |
| Thưởng chuyên cần | Cộng | Khoản cố định, giảm theo số lần muộn quá mức cho phép (không phạt tiền) |
| Khấu trừ khác | Trừ | Tạm ứng đã nhận, khoản người lao động đồng ý trừ (không phải tiền phạt) |
Về đi muộn và nghỉ dạy: Bộ luật Lao động 2019 (Điều 127) không cho phạt tiền hay cắt lương thay cho xử lý kỷ luật với người làm theo hợp đồng lao động. Cách an toàn hơn là đặt một khoản thưởng chuyên cần trong quy chế và giảm khoản này khi đi muộn quá mức cho phép; buổi không dạy thì không tính giờ. Với hợp đồng dịch vụ, ghi rõ điều khoản trong hợp đồng và hỏi luật sư. Nội dung cập nhật đến tháng 11/2026; hãy kiểm tra văn bản gốc trước khi áp dụng. Bài trừ lương khi giáo viên nghỉ dạy có các tình huống và cách xử lý công bằng.
Ví dụ: bảng lương tháng của một trung tâm 4 giáo viên
Ví dụ: một trung tâm tiếng Anh khoảng 200 học viên, có 1 giáo viên full-time, 2 giáo viên part-time và 1 trợ giảng. Đơn giá và giờ trong tháng 10 như sau (dữ liệu minh họa):
| Người | Lương cứng + phụ cấp | Giờ dạy x đơn giá | Giờ trợ giảng / trực | Thưởng | Trừ | Thực nhận |
|---|---|---|---|---|---|---|
| Cô Lan, full-time | 6.000.000 + 500.000 | 48 x 120.000 = 5.760.000 | Trực 16 x 30.000 = 480.000 | 600.000 (tái đăng ký) | 0 | 13.340.000đ |
| Thầy Minh, part-time IELTS | 0 | 40 x 280.000 = 11.200.000 | 0 | 0 | 0 (2 buổi muộn quá mức không tính giờ) | 11.200.000đ |
| Cô Hà, part-time toán tư duy | 0 | 36 x 180.000 = 6.480.000 | 0 | 0 | 0 (buổi nghỉ không báo không tính giờ) | 6.480.000đ |
| Bạn Vy, trợ giảng | 0 | 0 | Trợ giảng 40 x 45.000 = 1.800.000 | 0 | 0 | 1.800.000đ |
| Tổng | 32.495.000đ |
Đọc bảng này cùng doanh thu: nếu tháng 10 trung tâm thực thu 110.000.000đ học phí, chi phí giáo viên khoảng 29,5% doanh thu. Đây là một con số chủ trung tâm nên theo dõi mỗi tháng, cùng với tỷ lệ này theo từng lớp.
Lưu ý: giờ dạy của cô Hà đã gồm 3 giờ dạy thay cho lớp của thầy Minh. Giờ đó tính cho cô Hà, không tính cho thầy Minh, dù lớp vẫn đứng tên thầy Minh trên thời khóa biểu. Đây là lý do bảng lương phải lấy giờ từ chấm công thực tế, không lấy từ lịch.
Mẫu bảng lương có sẵn công thức cho các cột trên, copy vào Excel được, có ở bài mẫu bảng lương giáo viên trung tâm. Mẫu phiếu lương gửi riêng từng người có ở bài mẫu phiếu lương gửi giáo viên.
Chấm công giáo viên: lấy giờ dạy từ đâu
Lương đúng hay sai phụ thuộc gần hết vào dữ liệu giờ dạy. Ba nguồn hay dùng, từ kém tin cậy đến tin cậy nhất:
- Thời khóa biểu. Dễ nhất nhưng sai nhiều nhất: không ghi buổi hủy, buổi dạy thay, buổi học bù.
- Sổ đầu bài hoặc điểm danh. Tốt hơn vì buổi có điểm danh là buổi đã diễn ra. Nhưng không biết giáo viên đến lúc nào.
- Chấm công gắn với buổi dạy. Giáo viên check-in khi vào lớp, check-out khi xong. Có giờ đến thật, giờ về thật, biết ai đi muộn, ai dạy thay.
Một quy tắc đơn giản: buổi nào không có chấm công thì không có trong bảng lương cho đến khi quản lý xác nhận. Tuần đầu giáo viên sẽ phàn nàn, từ tháng thứ hai thì không ai quên nữa.
Cách chấm công theo buổi dạy thực tế, kể cả khi giáo viên dạy ở nhiều cơ sở, có ở bài chấm công giáo viên theo buổi dạy. Nếu bạn cần mẫu bảng chấm công cho cả nhân viên văn phòng, xem bài mẫu bảng chấm công nhân viên trung tâm.
Quy chế lương: 8 điều nên viết ra
Phần lớn tranh cãi về lương không phải do tính sai, mà do hai bên hiểu khác nhau. Một trang quy chế lương giải quyết được gần hết. Checklist:
- Đơn vị tính: giờ 60 phút hay buổi, cách làm tròn.
- Bảng đơn giá theo bậc và loại lớp, ngày áp dụng.
- Định nghĩa giờ hợp lệ: buổi đã diễn ra, có chấm công, muộn bao nhiêu phút thì không tính.
- Dạy thay, học bù, buổi bị hủy sát giờ (ví dụ hủy dưới 4 giờ trước buổi vẫn trả 50%).
- Các khoản thưởng và điều kiện cụ thể bằng số.
- Thưởng chuyên cần và cách giảm khi đi muộn, nghỉ không báo (không phạt tiền).
- Ngày chốt công, ngày gửi bảng lương để giáo viên kiểm tra, ngày trả lương.
- Cách khiếu nại: gửi cho ai, trong bao nhiêu ngày sau khi nhận bảng lương.
Mẫu quy chế đầy đủ có ở bài mẫu quy chế lương thưởng cho trung tâm đào tạo. Chọn ngày chốt công nào để kế toán không bị dồn việc, xem bài chọn ngày trả lương và chu kỳ chốt công.
Lương giáo viên khác nhau theo loại trung tâm
Cách trả lương không giống nhau giữa các loại trung tâm, vì cấu trúc lớp khác nhau:
- Tiếng Anh, IELTS: đơn giá chênh lớn giữa giáo viên Việt Nam và giáo viên nước ngoài, giữa lớp giao tiếp và lớp luyện thi. Thường trả theo giờ, có thưởng theo điểm thi đầu ra. Xem lương giáo viên tiếng Anh ở trung tâm và trả lương giáo viên nước ngoài.
- Toán tư duy, kỹ năng cho trẻ: lớp nhỏ 8-12 học viên, giáo viên thường được thưởng theo sĩ số giữ được. Xem lương giáo viên toán tư duy.
- Âm nhạc, mỹ thuật: nhiều lớp 1 kèm 1 hoặc nhóm 3-5 người, hay trả theo buổi hoặc theo tỷ lệ học phí.
- Lập trình, robotics: cần trợ giảng cho lớp đông, nên có đơn giá trợ giảng rõ ràng. Xem lương trợ giảng ở trung tâm.
Thuế, bảo hiểm và hợp đồng: những gì cần kiểm tra
Phần này không thay cho tư vấn của kế toán, nhưng có ba việc chủ trung tâm nên biết:
- Loại hợp đồng quyết định cách khấu trừ thuế. Thu nhập của giáo viên ký hợp đồng lao động và của người làm theo hợp đồng ngắn hạn, cộng tác viên được khấu trừ thuế thu nhập cá nhân theo cách khác nhau. Mức và ngưỡng khấu trừ hiện hành, cùng mẫu cam kết cho người có thu nhập thấp, hãy kiểm tra với kế toán hoặc trên trang của cơ quan thuế (gdt.gov.vn). Bài khấu trừ thuế TNCN cho giáo viên part-time đi sâu hơn.
- Bảo hiểm xã hội. Luật Bảo hiểm xã hội 2024 (hiệu lực từ 01/7/2025) mở rộng đối tượng tham gia bắt buộc, trong đó có một số trường hợp làm việc không trọn thời gian. Hãy kiểm tra từng loại hợp đồng của trung tâm với cơ quan bảo hiểm xã hội nơi đăng ký.
- Hợp đồng part-time phải ghi đơn giá và cách tính. Đừng chỉ ghi "lương theo thỏa thuận". Mẫu có ở bài mẫu hợp đồng giáo viên part-time.
Nội dung cập nhật đến tháng 11/2026; hãy kiểm tra văn bản gốc trước khi áp dụng.
Những lỗi khiến bảng lương giáo viên sai hoặc gây mâu thuẫn
- Lấy giờ từ thời khóa biểu thay vì chấm công. Buổi hủy vẫn được trả, buổi dạy thay trả nhầm người.
- Đơn giá nằm trong đầu chủ trung tâm. Mỗi người được hứa một mức, không có bảng nào ghi lại.
- Sửa bảng lương sau khi đã gửi. Nên chốt (khóa) bảng lương tháng sau khi giáo viên xác nhận; sai sót phát hiện sau thì điều chỉnh ở tháng kế tiếp, có ghi chú.
- Trả theo doanh thu nhưng không nói rõ doanh thu nào. Học phí niêm yết, học phí sau giảm giá hay học phí thực thu cho ra ba con số khác nhau.
Làm việc này trên Eduto
Eduto tính bảng lương từ chính lịch dạy, ca làm và chấm công trong hệ thống, nên không phải đếm buổi từ nhiều file.
- Đặt đơn giá cho từng người. Trong bảng lương, nhập lương cứng, phụ cấp, đơn giá giờ dạy, giờ trợ giảng, giờ ca làm và giờ trực. Ô "Phạt đi muộn (phút)" nên để 0 với người làm theo hợp đồng lao động (Điều 127); dùng thưởng chuyên cần thay thế. Mỗi người một bộ đơn giá riêng. Lương theo buổi thì quy về đơn giá giờ (buổi 90 phút giá 300.000đ là 200.000đ một giờ).
- Giáo viên chấm công khi vào lớp hoặc vào ca. Check-in trên trình duyệt, ghi lại giờ, cơ sở và thiết bị; lần check-in quá mức cho phép được đánh dấu không hợp lệ. Chỉ giờ hợp lệ mới vào bảng lương: buổi đã kết thúc, đến muộn và về sớm trong mức cho phép. Đổi giáo viên cho một buổi thì giờ đó tính cho người dạy thay.
- Đơn xin nghỉ, đổi ca có người duyệt. Nghỉ phép có lương đã duyệt được cộng vào bảng lương theo đơn giá ca.
- Cộng thưởng, khấu trừ, ghi chú, rồi chốt tháng. Thưởng sĩ số, thưởng tái đăng ký hay phần trăm doanh thu thì nhập vào cột thưởng. Eduto chưa tự tính lương theo phần trăm doanh thu lớp. Chốt tháng xong, số liệu giữ nguyên dù sau đó có đổi đơn giá hay chấm công, và từng giáo viên xem được phiếu lương của mình.


Muốn xem bảng lương chạy với dữ liệu giả lập trước khi đăng ký, bạn có thể xem trung tâm mẫu mà không cần tạo tài khoản. Chi tiết các phần khác như lịch dạy, ca trực và phân quyền kế toán có trên trang phần mềm quản lý trung tâm Eduto. Bài phần mềm tính lương giáo viên tự động từ lịch dạy so sánh cách làm bằng phần mềm với cách làm bằng Excel.
Câu hỏi thường gặp
Nên trả lương giáo viên part-time theo giờ hay theo buổi?
Nếu mọi lớp cùng độ dài, theo buổi dễ nói chuyện hơn. Nếu có lớp 90 phút và lớp 120 phút, hãy dùng đơn giá theo giờ và quy ra buổi khi trao đổi với giáo viên. Quan trọng hơn cách gọi là định nghĩa giờ hợp lệ và có chấm công cho từng buổi.
Trả lương giáo viên theo phần trăm học phí có nên không?
Hợp với lớp 1 kèm 1, lớp nhóm nhỏ và giáo viên tự mang học viên đến. Với lớp đông do trung tâm tuyển sinh, trả thuần theo phần trăm làm thu nhập giáo viên dao động quá mạnh. Cách an toàn là có sàn theo giờ, cộng thưởng theo sĩ số hoặc tái đăng ký.
Chi phí lương giáo viên nên chiếm bao nhiêu phần trăm doanh thu?
Không có con số chung cho mọi trung tâm, vì phụ thuộc mặt bằng, quảng cáo và sĩ số. Cách làm đúng là tự đặt trần dựa trên chi phí cố định của mình, rồi theo dõi tỷ lệ này mỗi tháng và theo từng lớp. Lớp nào vượt trần nhiều tháng liền là lớp cần xem lại sĩ số hoặc đơn giá.
Giáo viên dạy thay thì tính lương cho ai?
Cho người đứng lớp thật, theo đơn giá của người đó. Lớp vẫn đứng tên giáo viên chính trên lịch, nhưng buổi dạy thay phải được ghi nhận riêng (đổi giáo viên cho buổi đó và có chấm công của người dạy thay).
Phần mềm có tính được lương theo phần trăm doanh thu không?
Eduto tính tự động lương cứng, phụ cấp, giờ dạy, giờ trợ giảng, ca làm, trực, và nghỉ phép có lương. Phần trăm doanh thu hay thưởng sĩ số hiện nhập vào cột thưởng trước khi chốt tháng. Bạn dùng thử 14 ngày, không cần thẻ.
Có câu hỏi về cách tính lương cho trường hợp cụ thể của trung tâm bạn, hãy viết cho chúng tôi tại [email protected].